Thầy Nguyễn Văn Nhiệm
Sinh nhật: 14-02
Cô Lê Thị Thanh
Sinh nhật: 05-02
Thầy Đỗ Xuân Phong
Sinh nhật: 09-02
Thầy Nguyễn Văn Dũng
Sinh nhật: 10-02
Cô Vũ Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 06-02
Cô Nguyễn Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 09-02
Thầy Nguyễn Thị Thu Huyền
Sinh nhật: 27-01
Thầy Nguyễn Văn Nhiệm
Sinh nhật: 14-02
Cô Lê Thị Thanh
Sinh nhật: 05-02
Thầy Đỗ Xuân Phong
Sinh nhật: 09-02
Thầy Nguyễn Văn Dũng
Sinh nhật: 10-02
Cô Vũ Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 06-02
Cô Nguyễn Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 09-02
Thầy Nguyễn Thị Thu Huyền
Sinh nhật: 27-01
Thầy Nguyễn Văn Nhiệm
Sinh nhật: 14-02
Thầy Đỗ Xuân Phong
Sinh nhật: 09-02
Thầy Nguyễn Văn Dũng
Sinh nhật: 10-02
Cô Vũ Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 06-02
Cô Nguyễn Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 09-02
Thầy Nguyễn Văn Dũng
Sinh nhật: 10-02
Cô Nguyễn Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 09-02
Cô Vũ Thị Thu Hiền
Sinh nhật: 06-02
Thầy Nguyễn Văn Nhiệm
Sinh nhật: 14-02
Thầy Đỗ Xuân Phong
Sinh nhật: 09-02

Truy cập

Hôm nay:
210
Hôm qua:
714
Tuần này:
2462
Tháng này:
6469
Tất cả:
1844663

MỘT SỐ LƯU Ý KHI SỬ DỤNG HÌNH 6 SGK SINH HỌC 12 NÂNG CAO

MỘT SỐ LƯU Ý KHI SỬ DỤNG HÌNH 6 SGK SINH HỌC 12 NÂNG CAO

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

           Khác với sách giáo khoa (SGK) cũ, SGK mới đặc biệt chú trọng hệ thống kênh hình. Đây là kênh cung cấp kiến thức đặc biệt hiệu quả khi giảng dạy theo phương pháp mới trong đó học sinh đóng vai trò chủ thể của hoạt động học tập. Tuy nhiên, có lẽ do số trang SGK cho một bài học là giới hạn, do đó kênh hình mô tả các quá trình sinh học thường bị cắt bớt các giai đoạn, vì thế trong thực tế giảng dạy một số sơ đồ đôi lúc lại cho hiệu quả không mong muốn.

   Để khắc phục hạn chế này, khi sử dụng kênh hình trong SGK chúng tôi không chỉ lưu ý đến nội dung kiến thức được thể hiện trong kênh hình mà còn đặc biệt lưu ý đến cách tiếp cận nội dung kiến thức đó. Thông qua đó chúng tôi định hướng phương pháp tiếp cận sơ đồ, hình vẽ trong SGK cho học sinh hoặc đôi lúc, để phù hợp với đối tượng học sinh cụ thể chúng tôi sử dụng sơ đồ, hình vẽ khác để bổ sung làm nổi bật nội dung kiến thức. Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm này chúng tôi xin đề cập đến một trong những trường hợp như thế, đó là một số lưu ý khi sử dụng hình 6 SGK Sinh học 12 Nâng cao.

II. NỘI DUNG

Hình 6.

“Hình 6 mô tả sơ đồ chuyển đoạn tương hỗ giữa hai NST 13 và 18 . Một đoạn của NST 18 chuyển sang NST 13 và ngược lại. Tế bào mang đột biến NST này khi giảm phân có thể hình thành 4 loại giao tử : 1 loại giao tử bình thường và 3 loại giao tử có chuyển đoạn.” (SGK Sinh học 12 nâng cao – trang 30).

     Với chú thích này kèm theo hình 6, học sinh thấy được sự khác biệt rõ rêt về hình thái các cặp NST sau đột biến chuyển đoạn tương hỗ so với các cặp NST trước khi xảy ra đột biến cũng như thấy được sự khác biệt rõ rệt về mặt di truyền giữa các loại giao tử được sinh ra nhờ đột biến chuyển đoạn tương hỗ.

     Tuy nhiên, cũng với hình vẽ và chú thích này, học sinh sẽ gặp khó khăn khi giải quyết một số vấn đề kiến thức ở mức độ thi Đại học như sau:

1. Cơ chế tạo ra các loại giao tử khác nhau về mặt di truyền của tế bào mang hai cặp NST đột biến chuyển đoạn tương hỗ (tế bào dị hợp tử chuyển đoạn)?

2. Một tế bào dị hợp tử chuyển đoạn có khả năng tạo ra tối đa bao nhiêu loại giao tử khác nhau về mặt di truyền (liên quan đến các cặp NST đang xét)?

3. Tỉ lệ giao tử có khả năng sống mà một tế bào dị hợp tử chuyển đoạn tạo ra là bao nhiêu?

     Với những câu hỏi này, thông qua quan sát hình 6, học sinh dễ dàng khẳng định, cơ chế tạo ra các loại giao tử khác nhau về mặt di truyền là do sự phân ly độc lập và tổ hợp tự do của các cặp NST ở kì sau I trong quá trình giảm phân hình thành giao tử, một tế bào dị hợp tử chuyển đoạn có khả năng tạo ra tối đa 4 loại giao tử khác nhau về mặt di truyền, trong đó chỉ có 2 loại giao tử có khả năng sống, chiếm 50% (2 loại còn lại không có khả năng sống do thiếu gen trên NST)

    Để giúp học sinh thẩm định lại tính chính xác của đáp án vừa đưa ra, chúng tôi cung cấp một sơ đồ bổ sung về sự tiếp hợp và phân ly của các NST chuyển đoạn trong giảm phân I như sau:

 

Sự hình thành chuyển đoạn và sự tiếp hợp của chúng trong giảm phân I

    Trong giảm phân I, Các NST có chuyển đoạn với nhau tạo nên hình chéo. Tiếp theo khi các NST đẩy nhau về các cực thì sẽ có 2 tình huống xảy ra với xác suất ngang nhau:

- Bốn NST vào cuối kì trước I đẩy nhau tạo nên vòng tròn. Sự phân li trong trường hợp này (theo mũi tên) sẽ tạo nên các giao tử không sức sống vì mang  một số NST thiếu gen, ví dụ: 1-4-3-4 thiếu 2 và 1-2-2-3 thiếu 4

- Sự hình thành số 8 do đẩy chéo nhau giữa các NST. Trong trường hợp này các giao tử được tạo nên có sức sống vì cân bằng gen (mỗi giao tử đều có 1-2-3-4)

   Sau khi thảo luận nhóm với sơ đồ bổ sung, học sinh đã dễ dàng chỉnh sửa lại đáp án :

1. Cơ chế tạo ra các loại giao tử của cơ thể dị hợp tử chuyển đoạn không đơn giản chỉ là kết quả của quá trình phân ly và tổ hợp của các NST trong giảm phân mà là kết quả của một quá trình phức tạp bao gồm quá trình tiếp hợp không bình thường, sự đẩy nhau một cách ngẫu nhiên sau tiếp hợp ở kì trước I kết hợp với quá trình phân ly và tổ hợp của các NST ở kì sau I trong giảm phân hình thành giao tử.

2. Một tế bào dị hợp tử chuyển đoạn chỉ có thể tạo ra tối đa 2 loại giao tử khác nhau về mặt di truyền liên quan đến các cặp NST đang xét chứ không phải 4 loại như trường hợp hoán vị gen

3. Một tế bào dị hợp tử chuyển đoạn hoặc tạo ra 100% giao tử có khả năng sống (tình huống 2) hoặc không tạo được giao tử có khả năng sống (tình huống 1). Còn tỉ lệ 50% giao tử có khả năng sống là tỉ lệ mà cơ thể dị hợp tử chuyển đoạn tạo ra do 50% số tế bào sinh dục có xu hướng phân ly NST theo tình huống 1 và 50% số tế bào sinh dục còn lại có xu hướng phân ly NST theo tình huống 2

  Như vậy, với  việc sử dụng sơ đồ thay thế sơ đồ SGK đã khắc phục được những hạn chế kiến thức về quá trình phát sinh giao tử của cơ thể dị hợp tử chuyển đoạn. Mặt khác, việc làm rõ cơ chế phát sinh các loại giao tử của cơ thể đột biến chuyển đoạn dị hợp tử còn giúp học sinh khắc sâu nhận thức về hậu quả của đột biến NST. Qua sơ đồ và câu hỏi định hướng khái quát của GV, học sinh dễ dàng nhận thấy sở dĩ  những cơ thể mang đột biến NST thường bị mất hoặc giảm khả năng sinh sản là do khi NST bị thay đổi về số lượng hoặc cấu trúc, chúng sẽ tiếp hợp  không bình thường, tiếp hợp không bình thường sẽ dẫn đến phân ly không bình thường và tất yếu là tạo ra các loại giao tử không bình thường (không có khả năng sống). Cũng qua nghiên cứu về quá trình tiếp hợp không bình thường của các NST trong giảm phân I mà học sinh lĩnh hội được thêm một phần kiến thức về phương pháp nhận biết các dạng đột biến cấu trúc NST thông qua hình dạng cấu trúc tiếp hợp.  Do vậy mặc dù sơ đồ thay thế có nhiều hình minh họa hơn sơ đồ SGK nhưng khi sử dụng không những không tốn thêm thời gian do nó chỉ bao gồm những hình đơn giản mà còn tiết kiệm được thời gian đáng ra phải dành cho quá trình phân tích hậu quả của các đột biến NST khác, chỉ cần yêu cầu học sinh thảo luận nhóm và hoàn thành phiếu học tập về hậu quả các dạng đột biến NST còn lại là các em dễ dàng lĩnh hội được những kiến thức cơ bản nhất về đột biến NST

Phiếu học tập

Dạng đột biến

Hình thái NST trước đột biến

Hình thái NST sau đột biến

Sự tiếp hợp của cặp NST sau đột biến

Các loại giao tử được sinh ra từ cơ thể mang đột biến

Chuyển đoạn

 

 

 

 

Đảo đoạn

 

 

 

 

Mất đoạn

 

 

 

 

Lặp đoạn

 

 

 

 

 

III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

        1. Qua thực tế giảng dạy bài 6, chúng tôi đã sử dụng sơ đồ về quá trình phát sinh giao tử của cơ thể dị hợp tử chuyển đoạn gồm 3 sơ đồ thành phần như đã trình bày ở trên và thu được hiệu quả tốt. Đa số học sịnh hiểu rõ về cơ chế phát sinh giao tử và giải quyết thành thạo các vấn đề liên quan trong đề thi Đại học

        2. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, chúng tôi cũng sử dụng hình 6 SGK nhưng phải kèm theo chú thích đây là một sơ đồ rút gọn, chỉ minh họa kết quả của quá trình giảm phân hình thành giao tử của một cơ thể chuyển đoạn dị hợp tử đối với 2 cặp NST, chứ không mô tả cơ chế của quá trình và nhấn mạnh rằng, quá trình giảm phân hình thành giao tử của một cơ thể mang đột biến NST không thể xảy ra bình thường mà nó có sự khác biệt, kể từ giai đoạn tiếp hợp của các NST cho đến giai đoạn phân ly của chúng về các cực của tế bào trong giảm phân, do đó phần lớn các cơ thể mang đột biến NST đều bị giảm khả năng sinh sản. Và tất nhiên khi giáo viên phải giảng giải nhiều như vậy thì hiệu quả nhận thức là hạn chế so với khi để học sinh tự làm việc với sơ đồ thay thế.

        3. Trên đây là một ví dụ về sử dụng kênh hình trong giảng dạy Sinh học theo phương pháp mới, chúng tôi đã áp dụng trong giảng dạy và có hiệu quả, nay xin được thảo luận cùng các đồng nghiệp. Vì trình độ và thời gian có hạn, trong quá trình trình bày vấn đề chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý quí báu của các đồng nghiệp về vấn đề này để việc giảng dạy ngày càng được tốt hơn

                  Xin chân thành cảm ơn!

                                                                     Thanh hóa, tháng 5 năm 2010                                                                             

 

                                                                          Nguyễn Thị Phương